Phơi nhiễm cá nhân là gì? Các công bố khoa học về Phơi nhiễm cá nhân

Phơi nhiễm cá nhân đề cập đến sự tiếp xúc với các tác nhân vật lý, hóa học hoặc sinh học trong cuộc sống hàng ngày, có thể gây hại sức khỏe nếu không được kiểm soát. Các dạng phơi nhiễm bao gồm hóa học (chất độc hại), vật lý (như nhiệt độ cao, bức xạ), và sinh học (vi khuẩn, virus). Nếu không được quản lý, phơi nhiễm có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe như rối loạn hô hấp, ung thư da, và các bệnh truyền nhiễm. Biện pháp giảm thiểu gồm bảo hộ cá nhân, làm việc an toàn, giáo dục, và tuân thủ quy định.

Phơi Nhiễm Cá Nhân: Khái Niệm Cơ Bản

Phơi nhiễm cá nhân là thuật ngữ dùng để mô tả việc tiếp xúc của một cá nhân với các tác nhân vật lý, hóa học hoặc sinh học trong môi trường sống và làm việc hàng ngày. Tình trạng này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe nếu không được quản lý và kiểm soát một cách hiệu quả.

Các Dạng Phơi Nhiễm Cá Nhân

Có nhiều dạng phơi nhiễm cá nhân khác nhau mà con người có thể gặp phải, bao gồm:

  • Phơi nhiễm hóa học: Tiếp xúc với các chất hóa học độc hại như khí ô nhiễm, thuốc trừ sâu, hoặc các hợp chất công nghiệp.
  • Phơi nhiễm vật lý: Tiếp xúc với nhiệt độ cao, bức xạ, âm thanh lớn hoặc ánh sáng mạnh.
  • Phơi nhiễm sinh học: Tiếp xúc với vi khuẩn, virus, nấm mốc hoặc các tác nhân gây bệnh khác.

Tác Động Tiềm Ẩn của Phơi Nhiễm Cá Nhân

Phơi nhiễm cá nhân không được kiểm soát có thể dẫn đến nhiều hệ quả sức khỏe nghiêm trọng như:

  • Rối loạn hô hấp, tim mạch hoặc thần kinh do phơi nhiễm hóa học.
  • Ung thư da hoặc tổn thương mắt do phơi nhiễm bức xạ hoặc ánh sáng mạnh.
  • Dị ứng, hen suyễn hoặc các bệnh truyền nhiễm do phơi nhiễm sinh học.

Biện Pháp Giảm Thiểu Phơi Nhiễm Cá Nhân

Việc giảm thiểu phơi nhiễm cá nhân là cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mỗi cá nhân. Sau đây là một số biện pháp phổ biến:

  • Sử dụng thiết bị bảo hộ: Đeo khẩu trang, găng tay hoặc áo bảo hộ khi tiếp xúc với các chất độc hại.
  • Làm việc trong môi trường an toàn: Đảm bảo thông gió tốt và điều kiện làm việc an toàn để giảm thiểu tiếp xúc với các tác nhân có hại.
  • Giáo dục và đào tạo: Tăng cường nhận thức và hiểu biết về các nguy cơ tiềm ẩn và biện pháp phòng ngừa.
  • Tuân thủ quy định và hướng dẫn: Tuân thủ chặt chẽ các quy định của cơ quan y tế và môi trường về việc bảo vệ sức khỏe trong các môi trường làm việc hoặc sinh hoạt.

Kết Luận

Phơi nhiễm cá nhân là một vấn đề cần được quan tâm và quản lý hợp lý để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Việc hiểu rõ về các dạng phơi nhiễm, tác động tiềm ẩn và các biện pháp giảm thiểu là rất quan trọng để đảm bảo một môi trường sống an toàn và lành mạnh.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "phơi nhiễm cá nhân":

CĂN NGUYÊN VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI LIÊN QUAN THỞ MÁY TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 525 Số 1B - 2023
Mục tiêu: Xác định các căn nguyên vi khuẩn gây viêm phổi liên quan thở máy (VPLQTM) trên bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Đại học y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 162 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi liên quan thở máy điều trị tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 1/2020 đến 5/2022. Kết quả: - Trong số 162 bệnh nhân nghiên cứu có 148 bệnh nhân có kết quả cấy đờm dịch phế quản dương tính với vi khuẩn (chiếm 91,4%). -A. baumannii là căn nguyên gây bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (32,8%), tiếp đến là K. pneumoniae (21,6%), S. aureus (12,1%), P. aeruginosa (9,9%) và E. coli (7,8%). - A. baumannii ở nhóm viêm phổi liên quan thở máy muộn chiếm tỷ lệ là 36,1% cao hơn ở nhóm viêm phổi liên quan thở máy sớm (27,3%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết luận: Căn nguyên chủ yếu gây viêm phổi liên quan thở máy là A.baumannii và K. pneumoniae. Cần đặc biệt lưu ý căn nguyên A.baumannii ở bệnh nhân viêm phổi liên quan thở máy muộn.
#Viêm phổi liên quan thở máy #nhiễm trùng bệnh viện #căn nguyên #kháng kháng sinh #vi khuẩn.
3. Nồng độ Procalcitonin và C-Reactive Protein huyết tương ở đợt cấp bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiễm khuẩn
Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ PCT, CRP huyết tương trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (AECOPD) ở 200 bệnh nhân mới nhập viện: 123 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiễm khuẩn (nhóm bệnh), 77 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính không có nhiễm khuẩn (nhóm chứng) tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022. Kết quả: căn nguyên vi sinh ở nhóm AECOPD nhiễm khuẩn nhiều nhất là vi khuẩn A. baumannii (27,66%), K. pneumonia (13,83%), P. aeruginosa (12,76%). Nhóm bệnh có nồng độ PCT, CRP huyết tương cao hơn nhóm chứng, lần lượt là 7,30 ± 23,54 ng/ml; 76,70 ± 57,06 mg/l so với 0,07 ± 0,12 ng/ml; 10,05 ± 10,85 mg/l với p < 0,01; p < 0,001. Nồng độ CRP và PCT huyết tương tương quan thuận với SLBC với hệ số r = 0,502; 0,396 với p < 0,001.
#PCT #CRP #đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiễm khuẩn
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG BỆNH NHÂN VIÊM PHỔI LIÊN QUAN THỞ MÁY ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 523 Số 2 - 2023
Viêm phổi liên quan thở máy (VPLQTM) là nhiễm trùng bệnh viện phổ biến nhất và gây tử vong nhiều nhất ở các đơn vị hồi sức tích cực. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân viêm phổi liên quan thở máy góp phần quan trọng trong phát hiện sớm, lựa chọn kháng sinh điều trị ban đầu phù hợp, giảm biến chứng và tỷ lệ tử vong cho người bệnh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân viêm phổi liên quan thở máy điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Có 162 bệnh nhân là đối tượng của nghiên cứu. Thông tin được thu thập từ bệnh án hoặc khai thác từ người nhà theo mẫu Bệnh án nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân trong nghiên cứu là 65,8±17,2 tuổi. Thời gian xuất hiện VPLQTM trung bình là 5,5±2,4 ngày, VPLQTM muộn chiếm 58,0%. Triệu chứng lâm sàng khi xuất hiện VPLQTM là sốt ≥ 380C (75,3%), ran phổi (88,9%), tăng tiết đờm/đờm đục (95,1%). Triệu chứng cận lâm sàng khi xuất hiện VPLQTM bạch cầu máu tăng trên 12x109/L (79,0%), Pro-calcitonin máu tăng trên 0,5ng/mL (89,5%) và có hình ảnh X-Quang phổi thâm nhiễm lan toả (42,6%) và đông đặc phổi (31,5%).
#Viêm phổi liên quan thở máy #nhiễm trùng bệnh viện #lâm sàng #cận lâm sàng
ĐẶC ĐIỂM PHƠI NHIỄM SARS-COV-2 CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TUYẾN ĐẦU CHỐNG DỊCH COVID-19 NĂM 2020
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 518 Số 1 - 2022
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm phơi nhiễm SARS-COV-2 của nhân viên y tế (NVYT) tại các bệnh viện (BV) tuyến đầu chống dịch ở thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM): BV Bệnh Nhiệt đới, BV Đại học Y Dược TPHCM và BV Trưng Vương từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2020. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trên 204 NVYT bằng bộ câu hỏi tự điền. Kết quả ghi nhận nhóm NVYT phải tiếp xúc ban đầu (khu sàng lọc và cấp cứu) với bệnh nhân trong không gian kín có máy lạnh với tỷ lệ cao (76,6%). Tại khoa hô hấp, khoa truyền nhiễm, khu cách ly, trong bối cảnh làm việc có nguy cơ càng cao, NVYT phải tiếp xúc với số lượng bệnh nhân nhiều hơn với r=0,41 (p=0,01); r=0,58 (p<0,05) và r=0,51 (p<0,05) tương ứng. Tại khoa truyền nhiễm và khu cách ly, NVYT có bệnh nền có khả năng tiếp xúc với số lượng bệnh nhân nhiều hơn với r=0,66 (p=0,01) và r=0,51 (p<0,001) tương ứng. Các phát hiện cho thấy sự cần thiết xây dựng các chiến lược để cải thiện sự bảo vệ của NVYT phù hợp với từng khoa riêng biệt trong các cơ sở chăm sóc bệnh nhân. 
#SARS-CoV-2 #COVID-19 #phơi nhiễm COVID-19 #nhân viên y tế #bệnh viện tuyến đầu chống dịch
Các chỉ số về sự tiếp cận dự phòng phơi nhiễm HIV trước (PrEP) của nam gay, nam song tính và nam khác có quan hệ tình dục với nam giới tại Canada và sự chênh lệch nhân khẩu học giữa những người có nguy cơ cao nhiễm HIV Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 25 - Trang 3638-3650 - 2021
Dự phòng phơi nhiễm trước HIV (PrEP) là một công cụ phòng ngừa hiệu quả đang được mở rộng ở Canada. Chúng tôi mô tả việc tiếp cận PrEP và xác định các mối tương quan nhân khẩu học của việc tiếp cận trong số nam gay, nam song tính và những nam giới khác có quan hệ tình dục với nam giới (gbMSM) có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn bằng cách sử dụng dữ liệu từ một khảo sát trực tuyến với gbMSM cư trú tại Canada giữa tháng 10 năm 2017 và tháng 1 năm 2018. Trong số 969 người tham gia có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn đã từng xét nghiệm HIV gần đây, có 96,0%, 83,3%, 72,6% và 39,7% báo cáo về nhận thức, kiến thức, sự chấp nhận và việc theo đuổi PrEP, tương ứng; 27,1% đã từng và 24,6% hiện đang sử dụng PrEP. Đặc điểm liên quan mạnh mẽ nhất đến việc sử dụng PrEP là sinh sống tại thành phố có ≥500.000 dân; các yếu tố khác bao gồm việc công khai cho tất cả hoặc hầu hết gia đình, bạn bè và đồng nghiệp về sự hấp dẫn tình dục đối với nam giới, khả năng tài chính tốt hơn và độ tuổi từ 30 đến 49. Việc cải thiện sự mở rộng sử dụng PrEP tại Canada có thể đạt được thông qua việc xem xét những sự chênh lệch này.
#HIV #PrEP #gay #song tính #nam có quan hệ tình dục với nam giới #nguy cơ nhiễm HIV #nhân khẩu học
Sàng lọc dị bội trong bối cảnh các phát hiện sinh học - y học gần đây, tình hình pháp lý tại khu vực D-A-CH và cân nhắc đến các khía cạnh tâm lý của bệnh nhân mong muốn có con Dịch bởi AI
Journal für Gynäkologische Endokrinologie/Österreich - Tập 30 - Trang 39-52 - 2020
Sàng lọc di truyền trước khi cấy ghép (PGS)/Kiểm tra di truyền trước khi cấy ghép cho dị bội (PGT-A) là một phần của chẩn đoán trước khi cấy ghép (PID). Thuật ngữ này bao gồm nhiều phương pháp được áp dụng để nắm bắt cấu trúc nhiễm sắc thể của một phôi trước khi chuyển vào tử cung. Mục đích không phải là ngăn chặn sự di truyền các bệnh di truyền (mono-gen) mà chỉ đơn thuần là loại trừ các dị bội. Việc áp dụng PGS được dự đoán sẽ làm tăng khả năng cấy ghép cũng như tỷ lệ sinh sống và giảm tỷ lệ sẩy thai, do các phôi euploid được lựa chọn cho việc chuyển cấy, theo giả thuyết lâm sàng. Trong những năm gần đây, kỹ thuật này không chỉ được phát triển kỹ thuật một cách chóng mặt mà còn ngày càng được ưa chuộng trên toàn cầu. Tuy nhiên, một điều thường không được chú ý là vẫn thiếu bằng chứng lâm sàng chứng minh cho "lợi ích" được giả thuyết của PGS. Ngay cả các kỹ thuật tiên tiến nhất như "giải trình tự thế hệ tiếp theo" (NGS) cũng chưa thể thay đổi điều đó. Ngược lại, các nền tảng phân tích nhạy cảm cao này đã dẫn đến những nhận thức mới về trạng thái nhiễm sắc thể của phôi trước khi cấy ghép và cũng tạo ra một vấn đề cơ bản có thể đặt dấu hỏi về PGS nói chung – đó là thực tế rằng một phần không nhỏ của các phôi người không đồng nhất euploid hay aneuploid mà tồn tại dưới dạng một mô hình nhiễm sắc thể (CM) với các bất thường số lượng và/hoặc cấu trúc. Bài viết tổng quan này tóm tắt tài liệu hiện tại và xem xét những vấn đề cốt lõi của PGS từ góc độ sinh học y học, pháp lý và đạo đức.
#sàng lọc dị bội #PGD #PGT-A #phôi #bất thường nhiễm sắc thể
Mô hình phân bố khác nhau của các hạt nano trong đường hô hấp của công nhân bị phơi nhiễm Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 19 - Trang 1-9 - 2017
Các hạt siêu vi (UFP) đã được giả định là góp phần đáng kể vào các tác động xấu đối với sức khỏe liên quan đến việc tiếp xúc với bụi mịn (PM). Do kích thước cực kỳ nhỏ (đường kính khí động lực học <100 nm), UFP có khả năng lắng đọng sâu trong phổi sau khi hít vào và né tránh nhiều cơ chế chịu trách nhiệm cho việc làm sạch các hạt lớn hơn. Có thiếu hụt các chỉ số phơi nhiễm cá nhân liên quan sinh học đối với việc tiếp xúc với bụi mịn và bụi nano liên quan đến nghề nghiệp và môi trường. Mục tiêu của nghiên cứu hiện tại là đánh giá UFP trong đờm được gây ra (IS) và ngưng tụ hơi thở thở ra (EBC) như là các dấu hiệu sinh học có thể để đánh giá suy giảm chức năng phổi. Việc gây ra đờm và kiểm tra EBC được thực hiện bằng các phương pháp thông thường. Các hạt UFP được đánh giá bằng NanoSight LM20 (NanoSight Ltd, London, UK). Các đối tượng gồm 35 công nhân bị phơi nhiễm và 25 công nhân không bị phơi nhiễm. Không có sự khác biệt giữa các nhóm trong các kết quả thử nghiệm chức năng phổi và số lượng tế bào phân biệt, nhưng 63,6% số công nhân bị phơi nhiễm có tỷ lệ bạch cầu trung tính cao hơn (OR3.28 p = 0.03) so với các công nhân không bị phơi nhiễm. Những người bị phơi nhiễm có tỷ lệ UFP cao hơn trong khoảng từ 10 đến 50 nm (69.45 ± 18.70 so với 60.11 ± 17.52 cho nhóm không bị phơi nhiễm, p = 0.004). Không tìm thấy sự khác biệt trong các mẫu IS. Thời gian tiếp xúc tương quan tích cực với hàm lượng UFP (r = 0.342 p = 0.01) và hàm lượng đại thực bào (r = -0.327 p = 0.03). Tỷ lệ phần trăm của phần nhỏ UFP trong EBC, nhưng không phải trong IS, cao hơn ở các công nhân bị phơi nhiễm, và EBC có thể là một dấu hiệu sinh học nhạy cảm để đánh giá tiếp xúc với các hạt nano.
#hạt siêu vi #bụi mịn #phơi nhiễm nghề nghiệp #chức năng phổi #dấu hiệu sinh học
Kỹ thuật hemoperfusion sử dụng cartridge Jafron HA330 kết hợp với máy lọc máu BBraun Dialog+ ở bệnh nhân bị viêm phổi coronavirus 2019 và sốc nhiễm trùng: một báo cáo ca bệnh Dịch bởi AI
Journal of Medical Case Reports - Tập 17 - Trang 1-6 - 2023
Việc sử dụng hemoperfusion để loại bỏ cytokine và các chất trung gian viêm đang ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt ở bệnh nhân mắc bệnh coronavirus 2019, những người đã được công chúng biết đến với tình trạng bão cytokine. Tuy nhiên, tình trạng bão cytokine đã được giới y học hồi sức cấp cứu biết đến từ lâu. Một trong những phương pháp để loại bỏ cytokine là sử dụng kỹ thuật lọc và hấp phụ kết hợp với liệu pháp thay thế thận liên tục. Việc sử dụng liệu pháp thay thế thận liên tục thường bị hạn chế bởi chi phí rất cao so với chăm sóc tiêu chuẩn, đặc biệt là ở Indonesia, nơi chi phí y tế được bảo hiểm y tế quốc gia chi trả. Trong trường hợp này, chúng tôi sử dụng thẩm phân máu và hemoperfusion, kết hợp với máy thẩm phân máu, vốn hiệu quả về chi phí và dễ sử dụng hơn. Chúng tôi đã sử dụng cartridge Jafron HA330, được điều chỉnh cho máy thẩm phân máu BBraun Dialog+. Báo cáo ca bệnh này trình bày về một người đàn ông gốc Á 84 tuổi bị sốc nhiễm trùng do viêm phổi, suy tim sung huyết và bệnh thận mạn tính cấp tính đi kèm với tình trạng quá tải dịch. Sau khi thực hiện thẩm phân máu và hemoperfusion riêng biệt, tình trạng lâm sàng của bệnh nhân đã cải thiện đáng kể và dần dần. Các chỉ số lâm sàng, bao gồm điểm số inotropic vasopressor và các dấu hiệu nhiễm trùng, cần được xem xét khi quyết định bắt đầu thẩm phân máu và hemoperfusion. Nói chung, việc sử dụng hemoperfusion để điều trị bệnh nhân sốc nhiễm trùng có thể giảm thời gian nằm viện tại khoa chăm sóc đặc biệt, cùng với tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
#hemoperfusion #cytokines #thẩm phân máu #viêm phổi coronavirus 2019 #sốc nhiễm trùng #sức khỏe cộng đồng #chăm sóc cấp cứu
24. MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ ĐÓNG GÓP VÀO PHƠI NHIỄM BỤI PM2.5 CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tạp chí Y học Cộng đồng - Tập 65 Số CD6 - HNKH Bệnh viện Lê Văn Thịnh - Trang - 2024
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình các yếu tố đóng góp vào phơi nhiễm bụi PM2.5 cá nhân bao gồm biến số thuộc các nhóm yếu tố: Đặc điểm nền, địa điểm, phương tiện di chuyển, hoạt động, tình trạng thông khí, chất lượng không khí. Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu theo dõi dọc thực hiện trên 36 người sinh sống và làm việc tại TP.HCM, đeo thiết bị đo bụi PM2.5 trong 2 ngày liên tiếp và hoàn thành nhật ký hoạt động tương ứng. Kết quả: Kết quả cho thấy nồng độ bụi PM2.5 trung vị là 14 µg/m3. Mô hình BMA (Bayesian Model Average) xác định mức độ đóng góp của các yếu tố gồm 8 biến số: Tuổi, cuối tuần, độ ẩm, mưa, địa điểm ngoài trời, có mùi khói, có mùi bụi, ăn trong quán ăn/nhà hàng có BIC thấp nhất là -436,4, giải thích được 29,6% sự khác biệt trong phơi nhiễm bụi PM2.5 cá nhân. Môi trường có mùi khói đóng góp cao nhất với 17%. Tiếp đến là các yếu tố tuổi, mưa, địa điểm ngoài trời, cuối tuần đóng góp khoảng 2-4%. Các yếu tố độ ẩm, môi trường có mùi bụi và ăn trong quán ăn/nhà hàng đóng góp dưới 1%. Kết luận: Cần kiểm soát khói từ các nhà hàng, quán ăn nhằm giảm phơi nhiễm PM2.5 cá nhân tại TP.HCM.
#Bụi PM2.5 #phơi nhiễm cá nhân #yếu tố đóng góp #mô hình tiên đoán
Nhận xét về một số bệnh ung thư ở người tham gia kháng chiến có phơi nhiễm chất độc hoá học được khám giám định tại Trung tâm Giám định Y khoa Hà Nội
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm một số bệnh ung thư ở người tham gia trong cuộc kháng chiến có phơi nhiễm chất độc hóa học và đánh giá tỷ lệ tổn thương cơ thể do bệnh ung thư gây ra. Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu 191 trường hợp cựu binh liên quan phơi nhiễm chất độc hóa học mắc các bệnh ung thư được quy định tại Điều 2 của Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 18/11/2013 khám giám định tại Trung tâm Giám định Y khoa Hà Nội từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2017. Kết quả: 3,66% có thời gian tiếp xúc dưới 1 năm, 75,92% có thời gian tiếp xúc ≥ 3 năm. Bệnh ung thư phế quản phổi 45,02%, ung thư thanh quản 15,18%, ung thư gan nguyên phát 14,66%, ung thư tuyến tiền liệt 10,99%, u lympho ác tính không Hodgkin 8,9%, các bệnh ung thư khác thường thấy trên quần thể phơi nhiễm Dioxin ít gặp hơn. Giai đoạn bệnh 1, 2, 3 và 4 tương ứng là 10,99%; 20,42%; 28,27% và 40,31%. 37,17% trường hợp được điều trị phối hợp 2 phương pháp trở lên. Các trường hợp khác chỉ điều trị đơn thuần một phương pháp xạ trị, hóa chất, phẫu thuật. 12,56% điều trị bằng: Đốt sóng cao tần, nút mạch + điều trị đích. Có 98,96% tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, trong đó tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 71 - 80% chiếm tỷ lệ cao nhất (43,23%). 20,94% đối tượng sống còn tại thời điểm 5 năm. Kết luận: Các cựu binh phơi nhiễm chất độc hóa học trong thời gian tham gia kháng chiến mắc ung thư phế quản phổi 45,02%, ung thư thanh quản 15,18%, ung thư gan nguyên phát 14,66%, ung thư tuyến tiền liệt 10,99%, u lympho ác tính không Hodgkin 8,9%, các bệnh ung thư khác thường gặp trên quần thể phơi nhiễm Dioxin đều gặp. Các bệnh ung thư thường phát hiện ở giai đoạn muộn nên dù được điều trị phối hợp nhiều phương pháp nhưng thời gian sống thêm khá ngắn. Mức độ thương tật ảnh hưởng tới cơ thể nặng nề.
#Ung thư #phơi nhiễm chất độc hóa học
Tổng số: 12   
  • 1
  • 2